Phẫu thuật vùng bẹn trong Nam khoa liên quan sinh sản ra sao?

Phẫu thuật vùng bẹn trong Nam khoa liên quan đến tinh hoàn, thừng tinh và sinh sản khi bệnh lý hoặc đường mổ nằm trên đường đi của tinh hoàn, động mạch tinh hoàn, tĩnh mạch thừng tinh, ống dẫn tinh và hệ bạch huyết. Các trường hợp thường gặp gồm giãn tĩnh mạch thừng tinh, tinh hoàn ẩn, nghi ngờ u tinh hoàn, tắc ống dẫn tinh và thoát vị bẹn. Nếu phẫu thuật không bảo tồn tốt mạch máu hoặc ống dẫn tinh, người bệnh có thể bị teo tinh hoàn, tắc nghẽn đường dẫn tinh, đau bìu kéo dài hoặc suy giảm khả năng sinh sản.

Phẫu thuật vùng bẹn trong Nam khoa là gì?

Vùng bẹn nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa bụng dưới và đùi. Đây không chỉ là khu vực của cơ thành bụng mà còn chứa ống bẹn – một đường giải phẫu đặc biệt có liên quan trực tiếp đến hệ sinh dục nam.

Ở nam giới, thừng tinh đi qua ống bẹn để xuống bìu. Bên trong thừng tinh có nhiều cấu trúc quan trọng:

  • Ống dẫn tinh, đưa tinh trùng từ mào tinh đến đường xuất tinh.
  • Động mạch tinh hoàn, cung cấp máu cho tinh hoàn.
  • Đám rối tĩnh mạch hình dây leo, dẫn máu từ tinh hoàn trở về.
  • Động mạch ống dẫn tinh và động mạch cơ bìu.
  • Mạch bạch huyết, giúp dẫn lưu dịch quanh tinh hoàn.
  • Các sợi thần kinh liên quan cảm giác vùng bẹn – bìu.
  • Cơ nâng tinh hoàn và các lớp cân bao quanh.

Vì vậy, một đường mổ chỉ dài vài centimet ở bẹn vẫn có thể tác động đến tinh hoàn và khả năng sinh sản nếu nó đi qua hoặc thao tác gần thừng tinh.

Tuy nhiên, không phải mọi phẫu thuật vùng bẹn đều là phẫu thuật Nam khoa. Mổ thoát vị bẹn thường thuộc Ngoại tổng quát; mổ u tinh hoàn thuộc Tiết niệu – Ung bướu; tinh hoàn ẩn ở trẻ em thuộc Tiết niệu nhi; còn vi phẫu giãn tĩnh mạch thừng tinh và tái tạo ống dẫn tinh thường nằm trong Nam khoa – Vô sinh nam.

Điều quan trọng là người bệnh được đánh giá đúng chuyên khoa và có sự phối hợp giữa phẫu thuật viên với bác sĩ Nam khoa khi tinh hoàn, thừng tinh hoặc kế hoạch sinh con có khả năng bị ảnh hưởng.

Những phẫu thuật vùng bẹn liên quan trực tiếp đến tinh hoàn và sinh sản

Vi phẫu giãn tĩnh mạch thừng tinh

Giãn tĩnh mạch thừng tinh là tình trạng các tĩnh mạch quanh tinh hoàn giãn bất thường. Bệnh có thể làm tăng nhiệt độ bìu, rối loạn tuần hoàn, tăng stress oxy hóa và ảnh hưởng quá trình sản xuất tinh trùng.

Người bệnh có thể đến khám vì:

  • Cảm giác nặng hoặc tức bìu.
  • Đau âm ỉ tăng khi đứng lâu.
  • Sờ thấy búi mạch giống “búi giun”.
  • Tinh hoàn hai bên không đều.
  • Tinh dịch đồ bất thường.
  • Hiếm muộn chưa rõ nguyên nhân.

Phẫu thuật có thể được thực hiện qua đường bẹn hoặc dưới bẹn. Với kỹ thuật vi phẫu, bác sĩ sử dụng kính phóng đại để nhận diện và thắt các tĩnh mạch giãn, đồng thời cố gắng bảo tồn động mạch tinh hoàn, ống dẫn tinh và mạch bạch huyết.

Theo hướng dẫn của Hội Tiết niệu châu Âu, vi phẫu đường bẹn hoặc dưới bẹn có tỷ lệ tái phát và biến chứng thấp hơn nhiều kỹ thuật khác. Phương pháp này có thể cải thiện khả năng mang thai và một số chỉ số tinh dịch ở nam giới có giãn tĩnh mạch thừng tinh lâm sàng, tinh dịch đồ bất thường và hiếm muộn chưa giải thích được. Phẫu thuật không được chỉ định chỉ vì siêu âm thấy tĩnh mạch hơi giãn nhưng không sờ thấy trên khám và tinh dịch đồ vẫn bình thường.

Men’s Health cũng sử dụng siêu âm Doppler bẹn – bìu và tinh dịch đồ để đánh giá ảnh hưởng của giãn tĩnh mạch thừng tinh đối với chức năng tinh hoàn, thay vì quyết định mổ chỉ dựa trên cảm giác đau hoặc một thông số siêu âm đơn lẻ.

Phẫu thuật hạ và cố định tinh hoàn ẩn

Tinh hoàn được hình thành trong ổ bụng và di chuyển xuống bìu trước khi trẻ chào đời. Khi quá trình này không hoàn tất, tinh hoàn có thể nằm trong ổ bụng, ống bẹn hoặc ngay phía trên bìu.

Nếu tinh hoàn ẩn sờ thấy được ở vùng bẹn, bác sĩ thường thực hiện phẫu thuật qua đường bẹn để:

  1. Tìm và bộc lộ tinh hoàn.
  2. Tách tinh hoàn cùng mạch máu và ống dẫn tinh khỏi các mô xung quanh.
  3. Xử lý túi thoát vị đi kèm nếu có.
  4. Đưa tinh hoàn xuống bìu.
  5. Cố định tinh hoàn ở vị trí phù hợp.

Phẫu thuật cần được thực hiện sớm trong thời thơ ấu, lý tưởng vào khoảng một tuổi và không nên muộn hơn 18 tháng. Điều trị sớm giúp bảo tồn tiềm năng sinh sản tốt hơn, tạo điều kiện theo dõi tinh hoàn và giảm một phần nguy cơ biến chứng lâu dài. Người có tinh hoàn ẩn hai bên có nguy cơ suy giảm sinh sản cao hơn người chỉ bị một bên.

Ở nam giới trưởng thành mới phát hiện tinh hoàn nằm trong bẹn, bác sĩ phải đánh giá kích thước, cấu trúc tinh hoàn, nguy cơ ung thư, nội tiết và nhu cầu sinh sản trước khi lựa chọn hạ tinh hoàn, theo dõi hay cắt bỏ. Không nên mặc định mọi tinh hoàn ẩn ở người lớn đều có thể đưa xuống bìu và phục hồi khả năng sinh tinh.

Phẫu thuật u tinh hoàn bằng đường bẹn

Một khối u nằm trong tinh hoàn thường được phát hiện qua tự sờ thấy cục cứng hoặc siêu âm bìu. Khi nghi ngờ ung thư tinh hoàn, đường mổ tiêu chuẩn không đi xuyên qua da bìu mà đi từ vùng bẹn.

Phẫu thuật cắt tinh hoàn tận gốc qua đường bẹn cho phép bác sĩ kiểm soát và cắt thừng tinh ở vị trí cao gần lỗ bẹn trong. Cách tiếp cận này hạn chế làm thay đổi đường dẫn lưu bạch huyết và giảm nguy cơ phát tán tế bào u tại vùng bìu. Hướng dẫn EAU xác định cắt tinh hoàn cùng thừng tinh qua đường bẹn là phương pháp tiêu chuẩn khi nghi ngờ u tế bào mầm; đường mổ qua bìu cần tránh vì liên quan nguy cơ tái phát tại chỗ cao hơn.

Phẫu thuật này liên quan trực tiếp đến sinh sản vì:

  • Bản thân ung thư tinh hoàn có thể làm chất lượng tinh trùng suy giảm.
  • Cắt một tinh hoàn làm giảm một phần mô sinh tinh.
  • Hóa trị hoặc xạ trị sau mổ có thể tiếp tục ảnh hưởng khả năng sinh sản.
  • Người chỉ có một tinh hoàn hoặc có bất thường tinh hoàn đối bên có nguy cơ cao hơn.

Do đó, EAU khuyến cáo thảo luận việc trữ tinh trùng với tất cả nam giới trước khi bắt đầu điều trị ung thư tinh hoàn. Xét nghiệm AFP, hCG và LDH cũng cần được thực hiện trước phẫu thuật, nhưng kết quả dấu ấn bình thường không loại trừ hoàn toàn ung thư.

Trong một số trường hợp chọn lọc như khối nhỏ, nghi lành tính, u hai bên hoặc người bệnh chỉ còn một tinh hoàn, phẫu thuật bảo tồn tinh hoàn có thể được cân nhắc tại cơ sở chuyên sâu, thường phối hợp xét nghiệm mô tức thì trong lúc mổ. Mục tiêu là bảo tồn testosterone và khả năng sinh sản nhưng vẫn phải bảo đảm an toàn ung thư học.

Phẫu thuật tái tạo ống dẫn tinh bị tắc ở vùng bẹn

Ống dẫn tinh có thể bị tổn thương trong quá trình mổ thoát vị bẹn, mổ tinh hoàn ẩn lúc nhỏ, chấn thương hoặc các lần phẫu thuật vùng bẹn trước đây.

Tổn thương có thể gồm:

  • Cắt đứt hoàn toàn ống dẫn tinh.
  • Thắt hoặc kẹp nhầm ống dẫn tinh.
  • Bỏng nhiệt do dao điện.
  • Ống dẫn tinh bị chèn ép bởi mô xơ hoặc vật liệu phẫu thuật.
  • Sẹo kéo dài làm hẹp lòng ống.
  • Thiếu máu nuôi gây xơ hóa thứ phát.

Nếu tổn thương xảy ra một bên và tinh hoàn, ống dẫn tinh bên còn lại hoàn toàn bình thường, nam giới vẫn có thể có tinh trùng trong tinh dịch. Tuy nhiên, tổn thương hai bên, tổn thương ở người chỉ có một tinh hoàn hoặc đi kèm bất thường bên đối diện có thể gây vô tinh do tắc nghẽn.

Tài liệu đào tạo của Hội Tiết niệu Hoa Kỳ ghi nhận phẫu thuật thoát vị bẹn là một trong những nguyên nhân gây tổn thương không chủ ý đối với ống dẫn tinh. Tắc nghẽn tại vùng bẹn cần được nghĩ đến ở nam giới vô tinh có tiền sử mổ thoát vị hoặc hạ tinh hoàn.

Việc tái tạo có thể cần vi phẫu nối ống dẫn tinh với ống dẫn tinh. Trong trường hợp mô sẹo dài, thiếu đoạn ống hoặc có nhiều vị trí tắc, phẫu thuật trở nên phức tạp hơn. Nếu không thể tái tạo, bác sĩ có thể lấy tinh trùng từ mào tinh hoặc tinh hoàn để làm IVF/ICSI.

Phẫu thuật thoát vị bẹn ở nam giới

Thoát vị bẹn xảy ra khi mô trong ổ bụng đi qua điểm yếu của thành bẹn. Ở nam giới, túi thoát vị có thể chạy sát thừng tinh, xuống bìu hoặc dính vào các thành phần của thừng tinh.

Mổ thoát vị bẹn không phải là phẫu thuật điều trị vô sinh nam, nhưng có liên quan Nam khoa vì phẫu thuật viên phải bảo tồn:

  • Ống dẫn tinh.
  • Mạch máu tinh hoàn.
  • Đám rối tĩnh mạch.
  • Thần kinh vùng bẹn.
  • Cấu trúc bạch huyết.
  • Tinh hoàn khi thoát vị kéo dài xuống bìu.

Các hướng dẫn HerniaSurge cho biết tổn thương sinh sản sau mổ thoát vị có thể xảy ra do cắt, thắt, kẹp, đốt hoặc làm sẹo ống dẫn tinh. Bóc tách thừng tinh quá rộng cũng có thể gây huyết khối tĩnh mạch tinh, viêm tinh hoàn thiếu máu hoặc teo tinh hoàn. Vì vậy, kỹ thuật mổ cần hạn chế bóc tách không cần thiết và tránh làm tổn thương các thành phần của thừng tinh.

Tuy vậy, người bệnh không nên hiểu rằng cứ đặt lưới hoặc mổ thoát vị là sẽ vô sinh. Các hướng dẫn quốc tế không ghi nhận nguy cơ vô sinh nam có ý nghĩa lâm sàng tăng rõ rệt sau sửa thoát vị bằng lưới ở phần lớn người trưởng thành. Nguy cơ cá thể vẫn cần được lưu ý ở người mổ hai bên, mổ tái phát nhiều lần, chỉ có một tinh hoàn, từng tổn thương ống dẫn tinh hoặc đã có tinh dịch đồ bất thường từ trước.

Phẫu thuật khối u hoặc tổn thương thừng tinh

Thừng tinh có thể xuất hiện nang, u mỡ, u mô mềm, viêm, tổn thương sau chấn thương hoặc khối bất thường khó phân biệt với thoát vị bẹn.

Bác sĩ cần xác định khối nằm:

  • Trong tinh hoàn.
  • Ngoài tinh hoàn.
  • Tại mào tinh.
  • Dọc theo thừng tinh.
  • Trong ống bẹn.
  • Hay xuất phát từ thành bụng.

Siêu âm bìu – bẹn thường là phương tiện đầu tay. Nếu khối nghi ác tính hoặc liên quan sâu đến thừng tinh, phẫu thuật có thể phải đi theo đường bẹn để kiểm soát mạch máu, ống dẫn tinh và giới hạn khối u.

Không nên chọc, cắt hoặc bóc khối vùng bẹn – bìu tại cơ sở không có khả năng xác định nguồn gốc tổn thương, bởi một khối tưởng là nang hoặc thoát vị có thể liên quan trực tiếp đến tinh hoàn và thừng tinh.

Phẫu thuật vùng bẹn ảnh hưởng sinh sản nam bằng cách nào?

Làm tổn thương động mạch tinh hoàn

Tinh hoàn cần nguồn máu ổn định để duy trì mô sinh tinh và sản xuất testosterone. Nếu động mạch tinh hoàn bị tổn thương mà tuần hoàn phụ không đủ bù, tinh hoàn có thể thiếu máu, giảm thể tích hoặc teo.

Nguy cơ này được đặc biệt quan tâm trong mổ giãn tĩnh mạch thừng tinh, mổ thoát vị bẹn tái phát, mổ tinh hoàn ẩn và phẫu thuật bóc tách thừng tinh phức tạp.

Vi phẫu giúp phẫu thuật viên phân biệt động mạch với các nhánh tĩnh mạch nhỏ. EAU ghi nhận mổ vi phẫu giãn tĩnh mạch thừng tinh có tỷ lệ biến chứng và tái phát thấp hơn, trong khi tổn thương động mạch ở các kỹ thuật khác có thể dẫn đến teo hoặc mất tưới máu tinh hoàn.

Làm tắc ống dẫn tinh

Ống dẫn tinh có thành chắc nhưng lòng rất nhỏ. Một tổn thương không hoàn toàn trong lúc mổ vẫn có thể lành bằng mô sẹo và gây tắc nhiều năm sau đó.

Tắc một bên thường không gây vô tinh nếu bên còn lại bình thường. Tắc hai bên làm tinh dịch không có tinh trùng dù tinh hoàn vẫn sản xuất tinh trùng.

Khi đó, tinh hoàn có thể vẫn có kích thước và testosterone bình thường. Chẩn đoán cần dựa vào tinh dịch đồ, nội tiết, khám ống dẫn tinh và tiền sử phẫu thuật chứ không thể chỉ dựa trên khả năng cương hoặc lượng tinh dịch.

Làm tổn thương tĩnh mạch hoặc mạch bạch huyết

Tổn thương dẫn lưu tĩnh mạch có thể gây sung huyết, viêm thiếu máu hoặc đau tinh hoàn. Tổn thương mạch bạch huyết có thể dẫn đến tràn dịch màng tinh hoàn sau mổ.

Trong vi phẫu giãn tĩnh mạch thừng tinh, việc bảo tồn mạch bạch huyết giúp giảm nguy cơ tràn dịch. Theo dữ liệu tổng hợp của EAU, tỷ lệ tràn dịch và tái phát sau vi phẫu bẹn hoặc dưới bẹn thấp hơn đáng kể so với một số phương pháp không sử dụng vi phẫu.

Gây đau bẹn – bìu mạn tính

Sau mổ, đau có thể liên quan đến:

  • Sẹo kéo căng thừng tinh.
  • Kích thích hoặc tổn thương thần kinh.
  • Viêm quanh ống dẫn tinh.
  • Co thắt cơ vùng bẹn.
  • Lưới hoặc vật liệu cố định gây kích thích.
  • Tái phát thoát vị.
  • Thiếu máu hoặc viêm tinh hoàn.
  • Đau thần kinh sau phẫu thuật.

Đau mạn tính không nhất thiết làm tinh trùng yếu trực tiếp, nhưng có thể làm giảm ham muốn, hạn chế quan hệ, gây đau khi xuất tinh và ảnh hưởng kế hoạch sinh con. Hướng dẫn HerniaSurge xem đau mạn tính là một trong những biến chứng quan trọng cần theo dõi sau sửa thoát vị bẹn.

Mổ vùng bẹn có đồng nghĩa với nguy cơ vô sinh không?

Không. Phần lớn nam giới mổ vùng bẹn không bị vô sinh.

Khả năng sinh sản sau phẫu thuật phụ thuộc vào:

  • Phẫu thuật một bên hay hai bên.
  • Bên tinh hoàn còn lại có bình thường không.
  • Ống dẫn tinh có được bảo tồn không.
  • Tinh hoàn có bị thiếu máu hoặc teo không.
  • Bệnh lý ban đầu đã ảnh hưởng sinh tinh từ trước hay chưa.
  • Tuổi của người bệnh.
  • Kinh nghiệm của phẫu thuật viên.
  • Số lần đã mổ tại cùng vị trí.
  • Các yếu tố sinh sản của người bạn đời.

Người mổ thoát vị một bên, không có biến chứng và có tinh hoàn đối diện khỏe mạnh thường không cần quá lo lắng về vô sinh. Ngược lại, người từng mổ bẹn hai bên lúc nhỏ, có tinh hoàn ẩn, chỉ còn một tinh hoàn hoặc đang hiếm muộn nên được đánh giá sinh sản cụ thể.

Trước phẫu thuật vùng bẹn cần đánh giá những gì?

Khám bẹn, bìu và tinh hoàn

Bác sĩ cần kiểm tra:

  • Vị trí và kích thước hai tinh hoàn.
  • Mào tinh và ống dẫn tinh.
  • Thừng tinh.
  • Búi tĩnh mạch giãn.
  • Khối thoát vị.
  • Sẹo mổ cũ.
  • Khối bất thường trong bẹn hoặc bìu.
  • Đau khu trú.
  • Tinh hoàn có nằm đúng trong bìu hay không.

Ở người từng mổ nhiều lần, việc xác định ống dẫn tinh và tình trạng tinh hoàn trước mổ đặc biệt quan trọng.

Siêu âm Doppler bẹn – bìu

Siêu âm có thể đánh giá:

  • Kích thước và cấu trúc tinh hoàn.
  • Dòng máu đến tinh hoàn.
  • Giãn tĩnh mạch thừng tinh.
  • Khối trong hoặc ngoài tinh hoàn.
  • Tràn dịch.
  • Nang mào tinh.
  • Thoát vị xuống bìu.
  • Dấu hiệu teo tinh hoàn.

Khi nghi u tinh hoàn, siêu âm tần số cao được EAU khuyến cáo để xác định khối nằm trong hay ngoài tinh hoàn và đánh giá cả tinh hoàn đối diện.

Tinh dịch đồ

Tinh dịch đồ nên được cân nhắc khi:

  • Người bệnh đang mong con.
  • Đã hiếm muộn.
  • Có giãn tĩnh mạch thừng tinh.
  • Từng mổ bẹn hai bên.
  • Nghi tắc ống dẫn tinh.
  • Có tinh hoàn ẩn hoặc teo tinh hoàn.
  • Chỉ có một tinh hoàn.
  • Chuẩn bị phẫu thuật có thể ảnh hưởng đường dẫn tinh.
  • Muốn lưu lại thông số nền trước mổ.

Một kết quả bất thường thường cần được kiểm tra lại theo hướng dẫn của bác sĩ, vì chất lượng tinh dịch có thể biến động giữa các lần xét nghiệm.

Xét nghiệm nội tiết sinh sản

FSH, LH và testosterone không bắt buộc trong mọi ca mổ bẹn. Các xét nghiệm này có giá trị khi người bệnh có:

  • Tinh hoàn nhỏ.
  • Vô tinh hoặc tinh trùng rất ít.
  • Giảm ham muốn.
  • Rối loạn cương kèm nghi thiếu testosterone.
  • Tinh hoàn ẩn hai bên.
  • Tiền sử tổn thương tinh hoàn.
  • Nghi suy giảm chức năng sinh tinh hoặc nội tiết.

Đánh giá khả năng sinh sản của cặp đôi

Nếu mục tiêu phẫu thuật là cải thiện khả năng có con, không nên chỉ đánh giá người chồng.

Tuổi, dự trữ buồng trứng, sự phóng noãn, vòi trứng và các yếu tố sinh sản của người vợ ảnh hưởng đến quyết định có nên mổ giãn tĩnh mạch thừng tinh, tái tạo ống dẫn tinh hay chuyển sớm sang hỗ trợ sinh sản.

Trữ tinh trùng khi nguy cơ cao

Trữ tinh trùng nên được thảo luận trước:

  • Điều trị ung thư tinh hoàn.
  • Cắt tinh hoàn ở người chỉ có một tinh hoàn.
  • Phẫu thuật hai bên có nguy cơ ảnh hưởng ống dẫn tinh.
  • Tái phẫu thuật vùng bẹn nhiều lần.
  • Người đã có tinh dịch đồ rất kém.
  • Phẫu thuật tái tạo phức tạp chưa chắc thành công.

Đối với ung thư tinh hoàn, hướng dẫn EAU đưa ra khuyến cáo mạnh về việc thảo luận trữ tinh trùng trước điều trị.

Sau phẫu thuật vùng bẹn cần theo dõi dấu hiệu nào?

Người bệnh cần tái khám sớm khi có:

  • Đau tinh hoàn hoặc bìu tăng nhanh.
  • Bìu sưng căng bất thường.
  • Tinh hoàn bên mổ nhỏ dần.
  • Vết mổ đỏ, chảy dịch hoặc có mùi.
  • Sốt hoặc rét run.
  • Khối bẹn xuất hiện lại.
  • Đau kéo dài khi đi lại hoặc quan hệ.
  • Đau khi xuất tinh.
  • Tê, bỏng rát hoặc đau lan xuống bìu.
  • Khó có con sau thời gian quan hệ đều đặn.
  • Tinh dịch đồ xấu hơn rõ rệt sau mổ.

Sau mổ giãn tĩnh mạch thừng tinh, tinh dịch đồ thường không cải thiện ngay trong vài tuần. Quá trình sinh tinh cần thời gian; EAU ghi nhận sự cải thiện có thể cần đến khoảng hai chu kỳ sinh tinh và thai tự nhiên thường xuất hiện trong khoảng 6–12 tháng ở những trường hợp đáp ứng.

Nếu người bệnh đau bìu đột ngột dữ dội, buồn nôn hoặc tinh hoàn nằm cao bất thường, cần đến cấp cứu để loại trừ xoắn tinh hoàn thay vì chờ lịch tái khám thông thường.

Phẫu thuật vùng bẹn liên quan Nam khoa nên khám ở đâu?

Người bệnh nên khám tại cơ sở Nam khoa – Tiết niệu có khả năng:

  • Khám đồng thời vùng bẹn, bìu và tinh hoàn.
  • Thực hiện siêu âm Doppler bẹn – bìu.
  • Làm tinh dịch đồ và xét nghiệm nội tiết.
  • Đánh giá hiếm muộn nam.
  • Thực hiện hoặc phối hợp vi phẫu.
  • Bảo tồn động mạch, ống dẫn tinh và mạch bạch huyết.
  • Tư vấn trữ tinh trùng khi cần.
  • Phối hợp Ngoại tổng quát, Ung bướu hoặc Hỗ trợ sinh sản.

Trẻ có tinh hoàn ẩn nên được khám Tiết niệu nhi. Người có khối tinh hoàn nghi ung thư cần đến Tiết niệu – Ung bướu. Thoát vị bẹn nghẹt, khối đau không đẩy lên được, nôn ói hoặc chướng bụng là tình trạng cần đến khoa Cấp cứu – Ngoại tổng quát.

Với nam giới trưởng thành có giãn tĩnh mạch thừng tinh, bệnh lý bìu – tinh hoàn, tiền sử phẫu thuật bẹn hoặc lo lắng về sinh sản, Trung tâm Sức khỏe Nam giới Men’s Health là địa chỉ chuyên sâu có thể cân nhắc. Trung tâm có dịch vụ đánh giá bìu – tinh hoàn, giãn tĩnh mạch thừng tinh, vô sinh nam và siêu âm Doppler bẹn – bìu.

TS.BS.CK2 Trà Anh Duy có chuyên môn Nam khoa – Y học giới tính, điều trị bệnh lý bìu – tinh hoàn, giãn tĩnh mạch thừng tinh, vô sinh – hiếm muộn và các dị tật cơ quan sinh dục nam.

Phẫu thuật vùng bẹn trong Nam khoa & Những Câu Hỏi Thường Gặp

Mổ thoát vị bẹn có làm teo tinh hoàn không?

Đây là biến chứng có thể xảy ra nhưng không phổ biến. Nguy cơ liên quan đến tổn thương hoặc huyết khối các mạch máu tinh hoàn, thường cao hơn trong thoát vị lớn, mổ tái phát hoặc bóc tách thừng tinh rộng. Đau tăng, sưng bìu hoặc tinh hoàn nhỏ dần sau mổ cần được kiểm tra.

Mổ thoát vị bẹn có gây vô sinh nam không?

Phần lớn trường hợp không gây vô sinh. Tuy nhiên, tổn thương ống dẫn tinh hoặc mạch tinh hoàn có thể ảnh hưởng sinh sản, đặc biệt khi xảy ra hai bên hoặc ở người chỉ có một tinh hoàn hoạt động tốt.

Sau mổ bẹn không có tinh trùng là do đâu?

Cần nghĩ đến tắc ống dẫn tinh do tổn thương, thắt nhầm hoặc xơ sẹo sau phẫu thuật, nhất là khi người bệnh từng mổ hai bên. Bác sĩ cũng phải loại trừ suy giảm sản xuất tinh trùng tại tinh hoàn bằng khám, nội tiết và siêu âm.

Giãn tĩnh mạch thừng tinh có phải mổ qua đường bẹn không?

Có thể mổ qua đường bẹn hoặc dưới bẹn. Vi phẫu dưới bẹn thường tránh phải mở cân cơ chéo ngoài, trong khi đường bẹn có thể phù hợp với một số tình huống. Lựa chọn phụ thuộc giải phẫu, bệnh cảnh và kinh nghiệm phẫu thuật viên.

Mổ giãn tĩnh mạch thừng tinh có chắc chắn có con không?

Không. Phẫu thuật có thể cải thiện một số chỉ số tinh dịch và khả năng mang thai ở nhóm được chọn đúng, nhưng kết quả còn phụ thuộc tuổi, dự trữ buồng trứng và sức khỏe sinh sản của người vợ.

Tinh hoàn ẩn ở bẹn có ảnh hưởng sinh sản không?

Có thể. Nguy cơ cao hơn nếu tinh hoàn ẩn hai bên hoặc được điều trị muộn. Phẫu thuật sớm giúp bảo tồn tiềm năng sinh sản tốt hơn nhưng không loại bỏ hoàn toàn nguy cơ suy giảm sinh tinh và ung thư tinh hoàn.

Vì sao u tinh hoàn phải mổ đường bẹn, không mổ đường bìu?

Đường bẹn cho phép kiểm soát thừng tinh ở vị trí cao và hạn chế thay đổi đường dẫn lưu bạch huyết. Mổ xuyên bìu khi nghi ung thư có thể làm tăng nguy cơ gieo rắc tại chỗ và làm phức tạp việc đánh giá giai đoạn.

Cắt một tinh hoàn có còn sinh con được không?

Nhiều người vẫn có thể sản xuất đủ testosterone và tinh trùng bằng tinh hoàn còn lại nếu bên đó khỏe mạnh. Tuy nhiên, nên làm tinh dịch đồ, đánh giá nội tiết và thảo luận trữ tinh trùng trước điều trị ung thư.

Sau mổ vùng bẹn bao lâu nên làm tinh dịch đồ?

Thời điểm tùy loại phẫu thuật. Sau mổ giãn tĩnh mạch thừng tinh, bác sĩ thường theo dõi theo các chu kỳ sinh tinh thay vì xét nghiệm quá sớm. Sau tái tạo ống dẫn tinh, lịch xét nghiệm có thể bắt đầu sớm hơn để kiểm tra độ thông. Người bệnh nên tuân thủ mốc do bác sĩ phẫu thuật chỉ định.

Đã mổ bẹn từ nhỏ, khi trưởng thành có cần kiểm tra sinh sản không?

Nên kiểm tra nếu từng mổ hai bên, tinh hoàn ẩn, tinh hoàn nhỏ, chỉ có một tinh hoàn, đang chuẩn bị kết hôn hoặc chưa có con sau thời gian quan hệ đều đặn. Tinh dịch đồ là xét nghiệm nền quan trọng.

Kết luận

Phẫu thuật vùng bẹn trong Nam khoa có thể liên quan trực tiếp đến tinh hoàn, thừng tinh và sinh sản vì ống bẹn là nơi đi qua của động mạch tinh hoàn, tĩnh mạch thừng tinh, ống dẫn tinh, mạch bạch huyết và thần kinh vùng bìu.

Các phẫu thuật thường gặp gồm vi phẫu giãn tĩnh mạch thừng tinh, hạ tinh hoàn ẩn, cắt u tinh hoàn qua đường bẹn, tái tạo ống dẫn tinh và xử trí các khối bất thường của thừng tinh. Mổ thoát vị bẹn không phải phẫu thuật Nam khoa nhưng vẫn cần bảo vệ các cấu trúc sinh sản đi qua ống bẹn.

Trước phẫu thuật, nam giới đang mong con hoặc có nguy cơ cao nên được khám tinh hoàn, siêu âm Doppler, làm tinh dịch đồ và đánh giá nội tiết khi cần. Trữ tinh trùng cần được thảo luận nếu phẫu thuật hoặc điều trị tiếp theo có thể ảnh hưởng đáng kể đến khả năng sinh sản.

TS.BS.CK2 Trà Anh Duy cùng Trung tâm Sức khỏe Nam giới Men’s Health là chuyên gia và cơ sở hàng đầu trong lĩnh vực Nam khoa – Y học giới tính, bệnh lý bẹn – bìu – tinh hoàn và vô sinh nam. Việc được đánh giá bởi bác sĩ hiểu đồng thời giải phẫu phẫu thuật và chức năng sinh sản giúp người bệnh không chỉ điều trị tổn thương hiện tại mà còn bảo tồn tốt hơn khả năng có con và sức khỏe nội tiết lâu dài.

TS.BS.CK2 TRÀ ANH DUY
Trung tâm Sức khỏe Nam giới Men’s Health

Tags :

TS.BS.CK2 Trà Anh Duy

tiensi.bacsi.traanhduy@gmail.com

Trò Chuyện Cùng Chuyên Gia

      Nhận ngay bí quyết sống khỏe,       kiến thức nam khoa chính thống từ TS.BS.CK2 Trà Anh Duy

Theo dõi TS. BS.CK2 Trà Anh Duy:

Giới Thiệu

TS.BS.CK2. Trà Anh Duy – chuyên gia đầu ngành về Sức khỏe Nam giới và Nhà tham vấn trị liệu Tâm lý tình dục, hiện ông là Nhà sáng lập Công ty Cổ phần Sức khỏe Nam giới (Men’s Health), đơn vị tiên phong chăm sóc sức khỏe nam giới toàn diện tại Việt Nam.

Fanpage Chính Thức

Google Maps

© 2026, TraAnhDuy.com | Bản Quyền Đã Được Đăng Ký ®

Cấm sao chép mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản.